La Vang trong thời kỳ xây dựng và kiến thiết (1886 – 1972)

LA VANG TRONG THỜI KỲ XÂY DỰNG VÀ KIẾN THIẾ  T(1886 – 1972)

       Trong cuốn: “ Đức Mẹ La Vang, Nữ Vương Chiến Thắng”, tác giả Phạm Đình Khiêm có viết: “Lịch sử Lộ Đức và Fatima quan trọng nhất là ở giai đoạn khởi thủy, tức là giai đoạn Đức Mẹ hiện ra. Lịch sử La Vang trái lại càng ngày càng quan trọng hơn bởi những diễn biến kế tục. Trong vấn đề La Vang, Đức Mẹ dường như muốn thắng vượt tất cả mọi thông lệ. Còn sử liệu nào, còn bằng chứng nào tỏ rõ sự hiện diện, sự can thiệp của Đức Mẹ trên mảnh đất này, hơn là lòng tin tưởng vững bền mà chính Mẹ đặt vào lòng con cái Việt Nam từ thế hệ nọ truyền qua thế hệ kia, và cùng với thời gian càng lớn mạnh, tựa như hạt cải nhỏ trong Phúc Âm biến thành cây cải lớn có chim trời bến đậu…”

Trải qua gần một thế kỷ, linh địa La Vang vẫn còn ở trong tình trạng âm thầm lặng lẽ. Phần vì mất hút giữa rừng xanh núi đỏ, phần vì những biến cố chính trị và tôn giáo liên lỉ dồn dập xảy ra. “Có tích mới dịch ra tuồng”, tích đã xảy ra, tuồng phải chờ thời gian năm tháng mới quảng diễn. Mãi đến năm 1886, khi các cuộc bắt bớ đạo thật sự chấm dứt thì giờ vinh quang của Đức Mẹ La Vang khởi điểm. Giáo dân lại vượt núi băng rừng tìm về linh địa của Đức Mẹ. Các cuộc hành hương với gậy gộc, trống mõ đã qua và được thay thế bằng cờ xí tung bay, bằng những đoàn người tay cầm tràng hạt miệng sang sảng cầu kinh. Họ tìm về nhà thờ Đức Mẹ. Nhà thờ thứ nhất bằng tranh vách đất đã bị phá hủy, giáo dân lại dựng lên trên nền nhà nguyện cũ, nơi như còn phảng phất tro tàn của 30 vị anh hùng tử đạo, một nhà thờ mới cũng bằng tranh.

Số người hành hương càng ngày càng gia tang. Ngôi nhà thờ cũ đã trở nên quá chật chội, không đáp ứng được nhu cầu và lòng thành kính của giáo dân ba tỉnh Thiên, Trị, Bình của Giáo Phận Huế.

Vì vậy, năm 1886, một năm sau khi chấm dứt cuộc bắt bớ của Văn Thân, Đức Cha Lộc (Gaspar), Giám Mục địa phận, đã quyết định xây cất một ngôi nhà thờ ngói tại chính nơi Đức Mẹ hiện ra. Nhà thờ được kiến thiết theo kiểu nhà Việt Nam, với cột kèo xuyên trến, với hai tháp chuông hình vuông đơn sơ, có thể chứa được 400 người. Vì phương tiện tài chính eo hẹp sau những tàn phá vừa qua và vì việc chuyên chở vật liệu rất khó khan, ngôi nhà thờ này đã được hoàn thành trong 15 năm (1886 – 1901) dưới đời Ba Cha sở Cổ Vưu kiêm La Vang: Cha Bonnard (Bổn), cha Patinier (Kinh) và Cha Bonin (Ninh). Cha Ninh, nói được là người đã mở cuộc điều tra với lời tuyên thệ nơi các người già cả đã biết về sự tích La vang.

Lễ khánh thành nhà thờ mới diễn ra trong những ngày mồng 6 đến mồng 8 tháng 8 năm 1901 và đó là ngày Đại Hội La Vang lần thứ nhất do Đức Cha Gaspar chủ sự.

Mặc dù đường giao thông chưa thuận tiện, chỉ có cách đi bộ hay đò thuyền mà đã có 12.000 người tham dự. Trên tuyến sông từ phá Tam Giang, bến đò Ba Bến dân chúng tấp nập đổ về La Vang. Có cả đoàn thuyền được thuê bao để chở khách hành hương. Cuôc rước kiệu Đức Mẹ đi từ Cổ Vưu vào linh địa. Sau cuộc rước kiệu, Đức Giám Mục làm phép nhà thờ mới và tuyên bố tước hiệu: Đức Bà phù hộ các Giáo Hữu. Đại Hội bế mạc bằng Thánh Lễ và Phép lành Mình Thánh.

Từ năm 1901, giáo quyền ra thông lệ cứ ba năm tổ chức Đại Hội La Vang một lần. Và từ năm 1928, Đại Hội có tính cách toàn quốc.

Năm 1913, Cha Lemasle (Lễ) sau này là Giám Mục, chứng kiến cảnh Đại Hội náo nhiệt tưng bừng, đã ghi lại như sau:

“Thường niên vào dịp đầu xuân Âm Lịch (thông lệ ngày mồng 3 Tết), Linh Mục giáo hữu hạt Dinh Cát đều hưởng ứng lời kêu gọi của Cha Bề Trên quản hạt, hành hương về La Vang để tham dự buổi rước kiệu trọng thể.

Tuy nhiên, các tổ chức bề ngoài riêng rẽ, địa phương như thế không thấm gì, so với cuộc hành hương lớn cứ ba năm một lần, đươc tổ chức vào tháng 8 dương lịch. Năm 1913, Đại Hội Hành hương được trù liệu vào ngày 5 tháng 8 nhằm ngày lễ Đức Mẹ xuống tuyết.

Từ chiều ngày 4, có tới non ngàn người tấp nập về Thánh đường Cổ Vưu để nghênh đón tượng Mẹ, được đặt trên bàn kiệu xung quanh hoa nến phủ khắp. Tối 4 rạng 5 người ta chỉ nghe tiếng cầu kinh, tiếng lần hạt và hát các bài thánh ca Việt Nam hoặc xung quanh nhà thờ, hoặc những nơi bến đò có ghe thuyền đưa người hành hương tới dự.

Sau cùng tới ngày khai mạc Đại Hội, các Linh Mục dâng Thánh Lễ do giáo dân chịu lễ.

Lúc 5 giờ, dân chúng bắt đầu rước kiệu. Họ đứng sắp hàng dài tới 4 cây số. Sáu giờ, Đức Cha Allys, đại diện Tông Tòa Giáo Phận, nhiều an hem Linh Mục và giáo dân ra chuyến xe lửa đặc biệt được cơ quan đường sắt trung ương Trung Việt sẵn lòng hỗ trợ. Các Ngài tới tiếp theo đoàn kiệu từ từ tiến về nhà thờ La Vang. Đoàn kiệu về đó, lúc 8h30.

Thánh Lễ Đại Triều thật long trọng khởi sự …Cha chính Barthelemy chủ sự cùng 2 Linh Mục Việt Nam “Di Xup”. Khoảng trên 60 Linh Mục thừa sai, bổn quốc hát lễ. Trong khi cử hành Thánh Lễ hát này thì bên trong nhà thờ nhiều thánh lễ khác cũng được cử hành dưới hành lang được dựng lên trước cửa chính nhà thờ, để cho giáo dân mộ đạo tham dự, gồm những người không vào đươc trong nhà thờ.

Sau Thánh Lễ Đức Cha Allys cử hành, chủ tọa buổi chầu Mình Thánh long trọng theo nghi thức phụng vụ, rồi kết thúc. Khách hành hương từ từ ra về. Ai nấy lòng hân hoan vì được tham dự ngày Đại Hội tôn giáo trọng thể ấy.

Số hành khách hành hương tham dự buổi rước kiệu này đúng ra được bao nhiêu? Có người phỏng đoán xấp xỉ 10 ngàn. Kẻ khác cho là con số còn cao hơn bội.

Nhưng điều hiển nhiên cứ mỗi lần Đại Hội số người càng lên nhiều. Trong cả vùng Đông Pháp (Đông Dương Pháp thuộc) người Công Giáo Việt Nam đã bày tỏ lòng sủng ái con thảo thương yêu Đức Mẹ Maria.

Đó là điều an ủi lớn lao cho chúng tôi. Lòng tôn sủng Đức Mẹ La Vang ban đầu chỉ thu hẹp nhưng sau được phổ biến ra khắp cả Việt Nam. Từ nhiều tháng nay, tôi nhận được nhiều tờ báo các nơi, như địa phận Đàng Trong, Cam Bốt, nhất là Tây Đàng Ngoài, đều có đề mục thời sự, nói lên ý nghĩa Đại Hội hành hương Đức Mẹ La Vang vừa rồi”.

(Les Missions Catholioues Paris

Số 2340 ngày 10/4/1914 trang 471 – 472).

Đức Cha Chabanon (Giáo) bỏ thông lệ rước kiệu từ Cổ Vưu vào La Vang. Tam nhật được tổ chức tại La Vang mà thôi. Nhưng chiều ngày thứ hai có kiệu Mình Thánh Chúa trọng thể. Sáng thứ ba kiệu Đức Mẹ quanh La Vang. Thông lệ này còn duy trì cho đến ngày nay. Đại hội thường được tổ chức vào tuần lễ Đức Mẹ linh hồn và xác lên trời và kiệu Minh niên ngày mồng 3 Tết hoặc một ngày đầu xuân.
Thật cảm động khi thấy giáo dân tuôn về La Vang, sống những ngày quây quần xung quanh Mẹ. Tất cả đều nằm ngoài trời trên nền cỏ, ăn lương khô uống nước giếng Đức Mẹ, tiếng lần hạt cầu kinh vang vang. Đức Cha Hồ Ngọc Cẩn trong bài giảng Đại Hội đã trưng dẫn lời Thánh Kinh :  « Visitasti terram et inebriasti eam : Mẹ xuống viếng thăm đất này và làm cho nó say sưa » Ngài nói :

“Không say, sao mà bỏ cửa bỏ nhà, tuôn nhau hàng vạn người ở chốn rừng núi xa xôi này.

  • Không say sao mà sang hèn, giàu khó đều ngồi nằm lăn lóc giữa đất trời ?
  • Không say, sao mà quên ăn quên ngủ, đọc kinh cầu nguyện cả ngày thâu đêm.

Phải, say thật ! Song là say lòng trìu mến, cậy trông hết lòng tin tưởng vào Mẹ nhơn lành” (Tìm hiểu về Đức Mẹ La Vang, Giuse Nguyễn Văn Hội – Văn phòng Tòa Tổng Giám Mục Huế – 1994 trang 39) 

Ngôi thánh đường ngói thứ nhất thọ được 28 năm rồi hư nát tàn tạ. Hai tháp cổ gần xiêu vẹo và, một đêm, sau khi bổn đạo đọc kinh hôm ra về thì sập xuống. Đây là một di tích lịch sử, về sau linh đài Đức Mẹ được dựng tại chỗ, vì theo sự truyền tụng của cha ông, Đức Mẹ đã hiện ra tại chỗ này.

Đức Cha Allys (Lý) quyết định xây một Thánh đường mới rộng hơn và giao công tác này cho Cha Morineau (Trung) Cha Sở Cổ Vưu kiêm La Vang.

Một lời kêu gọi tha thiết đưa ra, muôn lòng con cái Mẹ, Bắc, Trung, Nam nhiệt liệt hưởng ứng. Ngôi Thánh đường mới, với hai tầng mái và hai cánh Thánh Giá cổ điển, cây tháp vuông hai tầng cao ngất, nổi bật lên giữa mây trời.

Lễ khánh thành cũng là Đại hội lần thứ nhất có tính cách toàn quốc với các phái đoàn từ các nơi đổ về, có sự hiện diện của tờ báo Trung Hòa (Hà Nội), có Đức Cha giáo phận Lào. Đại Hội khánh thành diễn ra trong những ngày 20 – 22 tháng 8 năm 1928.

Sau lễ khánh thành, ngày 30 tháng 9, Đức Giám Mục lại chủ sự Lễ  “làm phép” ba quả chuông theo nghi lễ Giáo Hội.

Buổi lễ có thủ tướng Nguyễn Hữu Bài và nhiều quan khách Việt Pháp tham dự. Buổi lễ dành danh dự “đỡ đầu” quả chuông thứ nhất cho hai ông bà cụ Bài, cho ông Lemasson và Baptist quả thứ hai và Bà Bernard quả thứ ba. Người “đỡ đầu” được đánh lên những tiếng đầu tiên.

La Vang đã trở nên môt trung tâm hành hương. Một số giáo dân đã đến sống núp bóng Mẹ. Việc bổ nhiệm các vị chủ chăn trở nên cần thiết.

Cuối năm 1928, Đức Cha Allys (Lý) bổ nhiệm Cha Sở đầu tiên là Cha Phaolo Võ Văn Thới. Cha đã xây 3 tòa nhà dành cho khách hành hương (1929). Ngài còn tạo cơ sở cho các chị nữ tu Mến Thánh Giá Cổ Vưu, phụng sự thánh đường Đức Mẹ và giúp việc hành hương. Ngài thọ bệnh và qua đời, được an táng sau nhà thờ Đức Mẹ. Từ năm 1948, La Vang không có Cha Sở riêng và trở về Cổ Vưu như trước. Từ năm 1939 – 1941, trong thời chiến tranh khói lửa, hai Linh Mục cương quyết ở lại để bảo vệ linh địa Mẹ là Cha Nguyễn Văn Linh (1955) và Cha Giacobe Kinh. Cha Giacobe coi họ La Vang suốt thời gian chiến tranh. Cha cũng là tác giả tập sách dày 400 trang về Đức Mẹ La Vang, nhưng bị thất lạc. Cha Matheo Lê Văn Thành con bảo trợ của Cha Kinh đã viết lại và được Cứu Thế Tùng Thư xuất bản năm 1955, dưới đề tựa « Đức Mẹ La vang ». Cha Kinh được an táng sau Đền thờ Đức Mẹ.

Từ năm 1955 – 1967, Cha Sở La Vang thứ ba là Cha Giuse Trần Văn Tường. Trong đời Ngài, nhiều công tác xây dưng lớn lao được thực hiện.

Từ 1967 – 1972 có Cha Đông, Cha Cầu. Hiện nay (1996) là Cha Giuse Dương Đức Toại, Người đang kiến thiết lại các cơ sở và chuẩn bị cho ngày kỉ niệm hai trăm năm.

Để kết thúc bài này, chúng tôi muốn nhắc lại các cổ vật cha ông để lại, cũng như các công trình kiến thiết mới thực hiện hay dự định thực hiện tại Linh địa La Vang.

TRƯỚC HẾT LÀ PHO TƯỢNG ĐỨC MẸ LA VANG

Trong dịp Đại Hội La Vang lần đầu tiên (8/8/1901) Đức Cha Gaspar đã làm phép pho tượng Đức Mẹ La Vang. Đức Mẹ mặc áo choàng màu thanh thiên, phủ trên áo trắng ngà, đầu đội triều thiên vàng, chân đạp trên đám mây. “Đức Mẹ ngó nhìn ta, nét mặt dịu hiền, dáng điệu uy nghi nhưng lẫm liệt biết bao” (Phạm Đình Khiêm – Đức Mẹ La Vang, Nữ Vương chiến thắng). Pho tượng phỏng theo tượng Đức Mẹ chiến thắng ở nhà thờ Notre Dame des Victoires ở Paris.

Đức Mẹ hai tay đỡ Chúa Hài Đồng đứng phía tay mặt, như muốn giới thiệu với chúng ta. Chúa Giesu Hài Đồng thật duyên dáng trong bộ áo màu hồng. Đầu đội triều thiên, chân đứng trên quả địa cầu, lấp lánh mấy vì sao.

Chúa Hài Đồng, một tay níu áo Mẹ, một tay giơ ra, như mời gọi ta chạy đến với Mẹ : “Này là Mẹ con”

Pho tượng cổ xưa này đã được tôn kính trong nhà thờ ngói đầu tiên (1886) và được cung nghi trong buổi rước kiệu. Nhưng pho tượng bị thất lạc trong cuộc chiến 1972. Sau này, cha Giuse Trần văn Tường đặt một pho tượng giống như vậy, nhưng kích thước to hơn từ Sài Gòn đưa ra. Pho tượng này cũng bị tiêu mất trong vụ “mùa hè đỏ lửa”.

 

Đức Cha Ngô Đình Thục có cho đặt một pho tượng khác trên đài Đức Mẹ, tại chỗ Đức Mẹ hiện ra. Pho tượng với chủ đề : Đức Mẹ xuống ơn, hai tay buông thẳng hai bên. Nhưng trong chiến cuộc mùa hè đỏ lửa (1972) pho tượng bị bắn bể đầu và hiện nay còn được đặt tại tu viện Mến Thánh Giá La Vang. Năm 1972, Cha Sở Toma Lê Văn Cầu làm Cha Sở Cổ Vưu (Trí Bưu) kiêm La Vang, đã thỉnh một pho tượng khác đúc theo kiểu Đức Mẹ La Vang cũ (Đức Mẹ chiến thắng). Nhưng pho tượng này không có màu sắc, nên được sơn màu dụ trắng và đặt trên đài Đức Mẹ. (Theo Tìm hiểu về Đức Mẹ La Vang – LM. Nguyễn Văn Hội – Văn phòng Tòa Tổng Giám Mục Huế (1994 trang 34 – 35))

Về CÂY ĐA CỔ THỤ

Theo cổ truyền, Đức Mẹ đã hiện ra gần gốc cây đa cổ thụ, nay là vị trí của linh đài Đức Mẹ. Cha Giuse Tường khi về nhậm sở tại La Vang có dự định xây cất linh đài tại chỗ Đức Mẹ hiện ra, nghĩa là trên nền nhà thờ cũ. Hồi ấy, dân cư đã về đông xung quanh linh địa của Đức Mẹ sau ngày chia đôi đất nước. Nhờ sự cộng tác của Cha Điển, quản xứ La Vang hữu, Cha Tường đã di chuyển từng trăm thước đất, đắp bồi chỗ trũng, xây nền linh đài tứ giác, rộng 10 thước vuông.

Linh đài được xây cất trong vòng 3 đợt : năm 1955 bằng một ngôi nhà tứ giác thô sơ. Năm 1963, nhà tứ giác được thay thế bằng một kiến trúc tân thời. Nhà kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thời danh, đã sáng tác 3 cây đa cổ thụ bằng xi măng cốt sắt, với những tầng lá nhân tạo, để tưởng niệm sự tích Đức Mẹ hiện ra tại chỗ này. Hai bên linh đài có trồng hai bụi trúc nay được thay thế bằng hai bồn trồng hoa. Có người nói năm 1955, người ta đào bới và tìm thấy dưới ba mét, sâu dưới lòng đất cột gỗ lim chỉ nơi Đức Mẹ hiện ra và trồng khóm trúc đánh dấu chỗ Đức Mẹ hiện ra nơi vị trí ngôi nhà thờ ngói cũ và hiện nay là linh đài Đức Mẹ.

Tại La Vang còn một cái giếng mà dân chúng quen gọi là “Giếng Đức mẹ”. Linh Mục Nguyễn Xuân Cảnh (1872 – 1922) lúc làm phó Cổ Vưu, đã công tác rất nhiều trong việc kiến thiết linh địa Đức Mẹ. Năm 1903, Ngài đã cho đào một giếng nước trong khuôn viên nhà thờ Đức Mẹ. Vẫn biết giếng nước này không có sức chữa bệnh, nhưng lòng tin làm nên phép lạ, nhiều người uống nước ấy được lành bệnh. Vì thế, mỗi lần Đại hội bế mạc giếng Đức Mẹ khô cạn hẳn cũng như cây cỏ trong vườn đứng chơ vơ, bao nhiêu lá cây rặng cỏ, cũng như gạch sỏi đều được giáo dân mộ đạo làm cỏ hết đem về hầu khi hữu sự. “Mẹ dạy hái lá xung quanh…nấu uống sẽ lành các chứng bệnh. Mẹ nhận lời các con kêu xin và từ đây về sau, hễ ai chạy đến cầu khẩn cùng Mẹ ở chốn này Mẹ sẽ nhận lời ban ơn theo ý nguyện”.

Trong các cổ vật người xưa để lại còn những BỨC HỌA ĐỨC MẸ LA VANG. Trong cuốn “Đức Mẹ La Vang “, tác giả có nói đến bức ảnh đầu tiên. Trước đây, tại nhiều gia đình Công giáo ở hạt Dinh Cát và các nơi, có treo một họa phẩm Thánh Đường La Vang cũ. Bức ảnh có hình đền thờ cũ, phía trên thánh giá giữa hai tháp có tượng Đức Mẹ La Vang. Hai bên lại có hai câu đối chữ Hán. Hai câu đối do cụ Phan Châu Trinh và Cha Cadière làm lúc ở Di Loan.

Bức vẽ có một lịch sử như sau :

Năm 1906, Vua Thành Thái bị truất ngôi, cụ Nguyễn Khắc Nhân, Hàn Lâm Viện Biên Tu, tòng sự tại Bộ Công Chánh, buồn sự đời nên cáo lão về quê nuôi mẹ già, Cụ bà là Tôn Nữ Thị Quyên với ba con là Phi Hổ, Phi Long và Phi Hùng ở lại Huế. Ra Hà Nội ít lâu, vì lưu luyến gia đình, cụ trở về Kinh đô. Ở đây, cụ bị thực dân Pháp nghi ngờ có mưu đồ chống lại chính quyền bảo hộ, nên bị lưu đày ra Quảng Trị, ở tù 12 tháng. Không ngờ tại đây, Cụ gặp lại Cụ Quận Công Nguyễn Hữu Bài ở Phước Môn trước đây là người bạn cũ. Cụ được bạn giới thiệu với Linh Mục Cadière (Cả) bấy giờ làm Cha sở Di Loan.

Trong cuộc đào duyên kết nghĩa này, tài ba Cụ Nguyễn Khắc Nhân trong lĩnh vực thi ca và hội họa được chú ý. Trước đây, khi còn làm việc ở Tòa Khâm, cụ đã được người đời gọi là ” ông Ký Vẽ ” và được vua Thành Thái triệu về làm việc cho chính phủ Nam Triều.

Cụ đã vẽ bức họa Đền thờ Đức Mẹ La Vang kiểu cũ như vừa nói và họa phẩm Thánh Gia Thất, còn được lưu lại hậu thế. Cha Cadière đã cho ấn loát tại Paris (Nhà văn Xuân Lý, một cựu đệ tử Dòng Chúa Cứu Thế Huế kể lại trong “Đức Mẹ La Vang ” – CTTT).

Ngoài ra, ngày nay, có một số họa phẩm khác do một số họa sĩ tên tuổi sáng tác, như họa sĩ Phi Hùng, Văn Nhân, Cao Uy, Bạch Vân và một số khác mà tác giả không rõ danh tánh.

Theo Lm. Hồng Phúc CSSR

Trong cuốn ” Đức Mẹ La Vang và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam”

 

 

0 Comments

Leave a Comment

Login

Welcome! Login in to your account

Remember me Lost your password?

Lost Password